1. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC VÀ YÊU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH
1.1 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh
– Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho cây phát triển từ 15-200C, cây có thể sinh trưởng phát triển bình thường trong phạm vi nhiệt độ từ 10-350C.
– Ánh sáng: Cây cúc là cây ngày ngắn, ưa ánh sáng. Tuy nhiên ở mỗi thời kỳ sinh trưởng phát triển cây có yêu cầu ánh sáng khác nhau. Thời gian chiếu sáng rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng bông. Thời kỳ cây con cần ít ánh. Thời kỳ chuẩn bị phân cành cần tăng thời gian chiếu sáng (trên 14 giờ) để giúp cây sinh trưởng phát triển mạnh, giúp cho thân cao, lá to, hoa nở muộn nhưng chất lượng hoa tăng. Nếu thắp điện thấp hơn 14h, cây sẽ bị thấp, ra nụ sớm, giảm chất lượng hoa.
– Ẩm độ: Ẩm độ đất thích hợp khoảng 70 – 80%, ẩm độ không khí thích hợp khoảng 65 – 70%, ẩm độ cao hơn 85% cây dễ bị nấm bệnh xâm nhập.
– Thổ nhưỡng: Do cây cúc có bộ rễ phát triển cạn, rễ chùm nên cần đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng.
1.2 Yêu cầu dinh dưỡng
Các nguyên tố N, P, K,Ca, Mg và vi lượng như Fe, Zn, Mn, Cu, Bo có vai trò quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển, năng suất phẩm chất các loài hoa.
– Đạm (N): Có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng của cúc và ảnh hưởng đến thời kỳ phát triển. Thiếu đạm cây cằn cỗi, lá úa vàng, hoa nhỏ xấu. Nếu thừa đạm cây sinh trưởng mạnh, thân mập, cành nhánh nhiều có thể không ra hoa, đạm nhiều sâu bệnh phát triển và ảnh hưởng đến chất lượng của hoa. Cây cúc cần đạm vào thời kỳ chuẩn bị phân cành và thời kỳ phân hoá mầm hoa.
– Lân (P): Có tác dụng làm cho bộ rễ phát triển mạnh thân cứng, hoa bền, màu sắc đẹp chóng ra hoa, giúp cây hút đạm nhiều và tăng khả năng chống rét cho cây. Thiếu lân, bộ rễ kém phát triển cành nhánh ít, hoa chóng tàn, màu nhợt nhạt, hoa ra muộn. Cúc yêu cầu lân đặc biệt mạnh vào thời kỳ phân hoá mầm hoa.
– Kali (K) giúp cho cây tổng hợp, vận chuyển các chất trong cây, giúp cây chịu hạn, chịu rét, chống chịu sâu bệnh. Thiếu K màu sắc hoa không tươi thắm, mau tàn. Cúc cần K thời kỳ phân hoá mầm hoa.
– Các nguyên tố vi lượng: Cây cần ít nhưng không thể thiếu và không thể thay thế được như Fe, Zn, B, Mn, Cu…

2. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
2.1 Giống và tiêu chuẩn giống :
Độ tuổi cây trong vườn ươm nếu trời ấm từ 12-15 ngày, nếu trời lạnh từ 18-20 ngày; chiều cao cây: 5-8cm; đường kính cổ rễ: 2,5-4mm; có 6-8 lá thật. Cây phải khỏe mạnh, không dị hình, ngọn phát triển tốt, không có biểu hiện nhiễm sâu bệnh hại.
2.2 Chuẩn bị đất trồng
Cúc là cây trồng cạn, không chịu được ngập úng, do đó đất trồng phải cao ráo tơi xốp, thoát nước tốt. Đất thích hợp cho sự phát triển của cây cúc là đất thịt nhẹ, đất pha sét, đất đỏ bazan,…có độ pH khoảng từ pH = 5,8 – 6,8, độ dẫn điện khoảng từ 0,8 – 1mS/cm cho cây con và khoảng từ 1,2 – 1,5mS/cm cho cây lớn.
Đất được cày phơi ải từ 7-10 ngày sau mỗi vụ trồng, cày sâu 35-45 cm, bừa nhỏ mịn, khử tuyến trùng, sâu đất + rệp bằng Phenthooate- Tiêu Sùng (500 ml / 800 lít nước) + Vua Sâu Rầy ( 450 ml cho 600 lít nước), khử vi khuẩn + nấm bêngh bằng Sạch Nấm Khuẩn( 100 gr / 100 lít nước) + Antimaxphos (100g cho 100 lít nước)
Lên luống cao 20-25cm, rò rãnh 1,2m, bề mặt luống bằng phẳng, tưới ẩm trước khi trồng cây.
2.3 Phân bón và cách bón phân:
Bón truyền thống (rải):
Thời gian rải phân thích hợp nhất là 7 – 9 giờ sáng khi mặt lá khô sương để không dính phân vào lá, gây cháy lá.
Ngày hôm sau cần tưới đủ nước giúp phân hòa tan tốt hơn.
Giai đoạn ra nụ, nên cần chú ý cung cấp đủ dinh dưỡng Kali giúp cây cây cứng khỏe, nụ to, đẹp.
Bón phân thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt hoặc tưới gốc:
Áp dụng các loại phân sau: Canxi nitrate, Magie sunphate, Poly Root & Soil Poly Grow 30.9.9, Poly Grow 20.20.20, Poly Grow 4.10.36, Poly Grow 10.4.40,..
Poly Root & Soil với thành phần hữu cơ thiên nhiên kết hợp NPK thiên nhiên + trung vi lượng + vi sinh vật đóng vai trò cải tạo đất, giúp ra rễ khoẻ, phân huỷ các chất khó tiêu tồn dư trong đất, cân bằng nền vi sinh cho đất giúp hạn chế nấm bệnh cũng như tiết kiệm phân bón.
+ Giai đoạn 0-15 ngày sau trồng:
Phun ướt đều lá + tưới gốc: Poly Root & Soil ( 1 lít cho 1000 m2) + Poly Grow 30.9.9 ( 500 gr cho 200 lít nước )
4-5 ngày tưới 1 lần
+ Giai đoạn 15-45 ngày :
Phun ướt đều lá + tưới gốc: Poly Grow 20.20.20 + TE ( 600 gr cho 200 lít nước) , 5- 7 ngày sử dụng 1 lần.
Canxi và Magie tưới 1 đến 2 lần trong giai đoạn này, liều lượng 1 kg cho 200 lít nước.
+ Giai đoạn 45 ngày đến tỉa nụ:
Đối với cúc chùm pha Poly Grow 6.30.30 + Poly Grow 4.10.36 ( 600 – 800 gr cho 200 lít nước mỗi loại)
Đối với cúc đơn pha Poly Grow 10.4.40 ( 1 kg – 1,5 kg cho 200 lít nước)
5-7 ngày 1 lần
+ Giai đoạn tỉa nụ đến thu hoạch:
Sử dụng Poly Grow 10.4.40 (Pha 1 kg- 1,5 kg cho 200 lít nước)
2.4 Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.4.1. Mật độ trồng
– Mật độ trồng:
+ Đối với những giống cúc đơn (chỉ để 1 bông trên cành), khoảng cách là: 10 x 14cm hoặc 12 x 14cm, mật độ 55.000 – 60.000 cây/1000m2.
+ Đối với những giống cúc chùm (để nhiều hoa trên cành), trồng với khoảng cách là: 10 x 16cm hoặc 12 x 16 cm, mật độ 45.000 – 50.000 cây/1000m2
2.4.2. Kỹ thuật trồng
– Kỹ thuật trồng: Không nên trồng quá cạn hoặc quá sâu: Lấp khoảng 2/3 bầu đất là thích hợp, khi trồng cây yêu cầu phải đặt cây vuông góc với mặt đất.
2.4.3. Cắm cọc, rải ống tưới nhỏ giọt, thả lưới :
– Mỗi luống cắm 2 cọc đầu luống và 2 cọc cuối luống, các cọc được chôn xuống đất 40cm, cọc vừa có tác dụng canh thẳng luống vừa cố định hệ thống lưới đỡ cây.
– Lưới được thả cố định bởi các cọc sắt ở 2 đầu luống.
2.4.4. Tưới nước:
Đối với cây mới trồng: Tùy thuộc vào cấu trúc đất và ẩm độ đất, mùa nắng hay mùa mưa và lượng bốc hơi nước hằng ngày mà có chế độ tưới thích hợp, thông thường lần tưới đầu tiên – khoảng 10m3/1.000m2nước, sau đó giảm dần 5m3 – 7m3/1.000m2nước cùng với phân bón được hoà tan cho những lần tưới sau;
Giai đoạn sau ngắt điện: Hạn chế tưới nước trên bề mặt lá nhằm mục đích giảm độ ẩm vào ban đêm. Lượng nước tưới cũng phụ thuộc vào cấu trúc đất, độ ẩm, thời tiết và lượng bốc hơi nước hàng ngày, thường tưới khoảng 7– 8m3/1000m2;
2.4.5. Chiếu sáng bổ sung (Điều khiển quang chu kỳ):
Việc chiếu sáng cho hoa cúc vào ban đêm bằng hệ thống đèn điện chiếu sáng vào giai đoạn cây con (từ lúc trồng đến 30 ngày sau trồng) có tác dụng làm tăng chiều cao cây, tăng tỷ lệ nở hoa, hoa to, độ bền dài và nở đúng thời điểm mong muốn.
Thời gian chiếu sáng bổ sung dài hay ngắn phụ thuộc vào đặc tính của từng giống, từng mùa. Thời gian chiếu sáng bổ sung khoảng từ 20 đến 30 ngày vào ban đêm. Có thể chiếu sáng theo chu kỳ 10 phút sáng và 20 phút tối (Từ 8h30 tối – 2h45 sáng).
– Khoảng cách giữa các dây là 2,4m
– Khoảng cách giữa các bóng trên dây là 2,5m
– Khoảng cách từ mặt đất đến đèn: 2,7m
– Bóng đèn được sử dụng là bóng huỳnh quang 20w
– Bóng đèn được điều khiển bởi bộ hẹn giờ
– Tùy thuộc vào tiêu chuẩn chiều cao của cành hoa, người sản xuất có thể ngắt điện khi cây cao từ 30 – 45cm
– Để tiết kiệm chi phí sử dụng điện, chất lượng của cây con có vai trò quan trọng, nếu cây con chất lượng kém, rễ phát triển không đồng đều, thời gian chiếu sáng phải tăng lên, dẫn đến cây phân nhánh nhiều trong quá trình ra hoa làm giảm chất lượng cành hoa.
2.4.6. Ngắt nụ chính/nụ phụ:
– Đối với hoa cúc chùm, mục đích của ngắt nụ chính nhằm tập trung dinh dưỡng để cây nuôi các nụ nhánh, ngắt nụ kịp thời sẽ làm hoa nở đồng đều hơn, mật độ phân nhánh cũng tốt hơn, giá trị thương phẩm của cành hoa sẽ cao hơn. Từ lúc ngắt điện đến lúc ngắt nụ khoảng 4-5 tuần, ngắt bỏ nụ chính và để lại trên cây hoa phải có ít nhất 4-6 nhánh hoa nhỏ.
– Đối với hoa đơn (01 hoa trên một cây): Thao tác ngược lại, chỉ ngắt nụ phụ, còn để lại nụ chính. Ngắt nụ phải kịp thời nhằm tránh cổ hoa bị cong, hoa sẽ bị nhỏ do dinh dưỡng không đủ để nuôi hoa chính.

III. SÂU BỆNH HẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
Côn trùng, sâu hại chính và biện pháp phòng trừ
3.1.1. Bọ trĩ (Frankliniella sp.)
Đặc điểm gây hại:
Bọ trĩ chích hút nhựa ở phần lá non và hoa của cây. Nó làm biến dạng lá tạo nên những vết sẹo trên lá có dạng như vết bỏng dẫn đến giảm khả năng quang hợp của cây, khiến cây bị còi cọc không phát triển được.
Mặt khác, nó để lại những vết sẹo trên lá hoặc làm mất màu sắc của hoa dẫn đến mất giá trị thẩm mỹ và hoa không đạt chất lượng.
Bọ trĩ còn là môi giới truyền bệnh virus cho cây.
Biện pháp phòng trừ:
Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, sử dụng lưới côn trùng để ngăn cản sự xâm nhiễm bọ trĩ từ bên ngoài vào trong nhà kính. Dùng bẫy côn trùng như bạt vàng hay bẫy dính màu vàng để hạn chế sự phát triển của bọ trĩ. Vật liệu nhân giống, cây giống phải sạch trước khi mang vào nhà kính.
Kiểm tra phát hiện sớm để phun thuốc phòng trừ kịp thời và hiệu quả.
Sử dụng thuốc hóa học như: Tia Chớp 400 SC, Cayman 25 WP, Rồng Lửa 25 WP
Thuốc sinh học: Sumo
3.1.2. Nhện đỏ (Tetranychus urticae)
Đặc điểm gây hại:
Nhện chích hút dinh dưỡng của lá làm cho lá bị rộp, biến dạng dẫn đến sự quang hợp của lá bị giảm sút, lá có thể bị vàng rụng, làm giảm giá trị thẩm mỹ và năng suất của cây trồng. Trong quá trình chích hút có thể chúng sẽ tiết ra độc tố gây hại cây trồng.
Biện pháp phòng trừ:
Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng nhằm phát hiện sớm để có biện pháp kiểm soát kịp thời; hạn chế tối đa việc đi lại giữa nơi có nhện và nơi không có để tránh sự lây lan; tưới nước nhằm giảm nhiệt độ, tăng độ ẩm để kéo dài vòng đời của nhện.
Biện pháp sinh học: Sumo pha 1 ml cho 1 lít nước
Biện pháp hóa học: Tiêu nhện pha 1 ml cho 1 lít nước hoặc Sấm sét pha 1 ml cho 1 lít nước
3.1.3. Ruồi đục lá (Liriomyza sp.)
Đặc điểm gây hại:
Ruồi cái chích hút trên lá tạo thành những chấm nhỏ hình tròn (lỗ hút dịch) hay oval (lỗ đẻ trứng), làm lá bị tổn thương có thể tạo điều kiện cho các yếu tố gây bệnh phát triển; tại những lỗ hình oval, khi trứng nở thành ấu trùng thì chúng bắt đầu di chuyển và ăn phần thịt bên trong biểu bì la, làm lá bị tổn thương, giảm giá trị thẩm mỹ và khả năng quang hợp dẫn đến lá bị vàng úa, rụng sớm và ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cây trồng. Ruồi thường gây hại nặng vào tháng 2 đến tháng 5 hàng năm.
Biện pháp phòng trừ:
Vệ sinh đồng ruộng, sử dụng lưới côn trùng để ngăn cản sự xâm nhiễm từ bên ngoài vào trong nhà kính; sử dụng bẫy dính màu vàng để phòng trừ,
Kiểm tra và phát hiện sớm để phun thuốc hóa học kịp thời. Thuốc phòng trừ:
Siêu Vẽ Bùa Dòi ( pha 1 ml cho 1 – 2 lít nước) + Vua Sâu rầy Gold ( pha 1 ml/ 2 lít nước)
3.1.4. Rệp hại hoa cúc (Myzus percicae)
Đặc điểm gây hại:
Rệp chích hút nhựa cây làm lá bị méo mó, đặc biệt nó thải ra dịch ngọt. Dịch ngọt là môi trường thích hợp cho nấm muội đen phát triển, làm cản trở quá trình quang hợp và thoát hơi nước của lá dẫn đến lá bị vàng úa, cây bị còi cọc, giảm năng suất cây trồng. Rầy còn là nhân tố truyền virus gây hại cây.
Biện pháp phòng trừ:
Nhổ cỏ, xử lý rác thải đồng ruộng để tiêu diệt nơi ẩn nấp của rầy; dùng lưới chắn côn trùng ngăn chặn sự di chuyển của rầy từ bên ngoài vào trong nhà kính; kiểm tra đồng ruộng để phát hiện ngăn chặn kịp thời.
Sử dụng các thuốc hóa học: Vua sâu rầy pha 1 ml cho 1-2 lít nước hoặc Tia chớp pha 1 ml cho 1 lít nước
Sử dụng sinh học: Sumo: Bacillus thuringiensis var. kurstaki 128000 IU/mg + Spinosad pha 1 ml cho 1 ml nước
3.1.5. Sâu hại hoa cúc
– Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua).
– Sâu khoang (Spodoptera litura fabricius)
– Sâu xanh (Helicoverpa armigera hb)
Đặc điểm gây hại:
Sâu gây hại trong suốt quá trình sống, Sâu non thường gây hại mặt dưới của lá, sâu lớn gây hại hầu hết trên lá, chúng ăn lá, thân non, hoa làm tổn hại rất lớn đến chất lượng sản phẩm, chất thải do sâu bài tiết trên hoa, lá làm giảm giá trị sản phẩm dẫn đến tỷ lệ thải loại hoa rất lớn.
Biện pháp phòng trừ:
Vệ sinh đồng ruộng để hạn chế nơi trú ẩn của trưởng thành. Điều tra sâu bệnh trên đồng ruộng định kỳ 1-2 lần/tuần,
Có thể tham khảo sử dụng các thuốc hóa học có hoạt
chất Ebamectin ,Bacillus thuringiensis var. kurstaki 128000 IU/mg + Spinosad 0,4 % để phòng trừ
– Chú ý phòng trừ khi cây ngắt điện sau 1 tuần và giai đoạn cây có nụ vì lúc này bướm bay vào nhà kính nhiều do mùi của cây tiết ra mạnh hơn so với các giai đoạn phát triển khác.
3.2 Bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ
3.2.1. Bệnh rỉ sắt (Puccinia sp.)
Đặc điểm gây hại:
Hoa cúc có thể bị hai loại nấm rỉ sắt tấn công có tên là Puccinia horiana (rỉ sắt có màu trắng) và Puccinia chrysanthemi (rỉ sắt có màu nâu) gây nên.Ban đầu nấm này hình thành bào tử, các bào tử đảm nằm dưới mặt lá. Trong điều kiện thuận lợi: Ẩm độ ≥ 95% kéo dài ít nhất 3 giờ. Nấm xâm nhập vào mô lá khi có màn nước mỏng trên lá trong vòng 2 giờ ở nhiệt độ t0c = 17 – 240c. Nấm có thể lây lan ra xa khoảng 700m nhờ gió hoặc nước, bào tử nấm chỉ có thể sống trong vòng 5 phút nếu ẩm độ ≤ 80%. Nhưng nó lại tồn tại đến 60 phút ở ẩm độ từ 80-90%, sau khi nhiễm từ 5-14 ngày sẽ thấy vết bệnh xuất hiện trên lá. Dấu hiệu của bệnh rỉ sắt là mặt dưới lá xuất hiện vệt màu xanh nhạt. Sau khi phát triển thành những nốt mụn màu trắng rồi chuyển sang màu vàng. Cây non thì dễ bị bệnh rỉ sắt hơn cây lớn.
Vết rỉ sắt làm cho mặt trên lá hơi lõm vào có màu xanh nhạt, còn mặt dưới của lá hình thành những nốt mụn (mụn cóc) xếp chồng lên nhau theo những vòng tròn đồng tâm. Tại thời điểm giao mùa hoặc thời tiết ban đêm khi độ ẩm cao, nhiệt độ thấp là điều kiện thuận lợi để nấm phát triển.
Biện pháp phòng trừ:
Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ; chọn những giống kháng bệnh, cây con sạch bệnh; trồng đúng mật độ theo từng giống và từng mùa; ngắt lá bệnh và thu gom kịp thời; không tưới nước vào buổi chiều. Cần kiểm soát tốt nhiệt độ, độ ẩm tạo sự thông thoáng bên trong nhà kính sẽ hạn chế bệnh phát triển.
Có thể sử dụng các thuốc hóa học Acdino( 1 ml cho 1 lít nước) + Azocymo ( 1 gr cho 1 lít nước)
3.2.2. Bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani)
Đặc điểm gây hại:
Bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra, là loại nấm có sẵn trong đất; bệnh xuất hiện ở cả cây con và cây trưởng thành; thường xuất hiện khi cây bị dư nước hay trong điều kiện nóng ẩm; cây héo rũ và chết khi bị nhiễm bệnh. Bệnh thường xảy ra trong vườn ươm và cây con sau khi trồng, độ ẩm cao và giá thể trồng không xử lý nên cây con dễ bị nhiệm bệnh.
Biện pháp phòng trừ:
– Khử trùng vườn ươm và đất trồng.
– Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ trước mùa vụ.
– Sát trùng kỹ dụng cụ, quần áo và chân tay trước khi vào khu vực sản xuất.
– Tiêu huỷ cây nhiễm bệnh và cách ly khu vực nhiễm bệnh.
– Sử dụng nguồn nước tưới sạch bệnh; kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và tạo sự thông thoáng trong nhà kính.
– Dùng thuốc Antimaxphos 1 gr / 1 lít nước + Metalaxy 1gr/ 1 lít nước để phòng trừ bệnh.
3.2.3. Bệnh mốc xám (Botrytis cineraria)
Đặc điểm gây hại:
Bệnh do nấm Botrytis cinerea gây ra. Nấm này thường dễ lây ở những cây yếu và ở những nơi tế bào bị thương; đầu tiên xuất hiện những chấm màu nâu khi nấm phát triển thì những tế bào bị nấm tấn công sẽ thối nhũn; nấm thường phát triển trên lá, thân, hoa. Chúng làm hoại tử và thối nhũn tế bào dẫn tới lá bị rụng sớm, cây bị còi cọc, giảm chất lượng, năng suất cây trồng. Điều kiện để chúng lây lan là nhiệt độ 16-25oC, ẩm độ > 90% và thời gian cần thiết là 6 giờ liên tục.
Biện pháp phòng trừ:
Biện pháp phòng trừ: Khử trùng môi trường dùng ươm cây con và đất trồng; vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ trước mùa vụ; sát trùng kỹ dụng cụ, quần áo và chân tay trước khi vào khu vực sản xuất; tiêu hủy cây nhiễm bệnh và cách ly khu vực nhiễm bệnh; sử dụng nguồn nước tưới sạch bệnh; kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và tạo sự thông thoáng trong nhà kính. Hiện nay chưa có thuốc đăng ký trong danh mục để phòng trừ bệnh này trên cây hoa cúc, vì vậy có thể tham khảo sử dụng thuốc hóa học như Dacccomil( 1 ml cho 1 lít nước) + Metalaxyl( 1 gr cho 1 lít nước) + Nấm Khuẩn Nhật Bản( 1gr cho 1 lít nước)
3.2.4. Bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum)
Đặc điểm gây hại:
Bệnh do nấm Fusarium oxysporum gây ra, đây là loại nấm rất nguy hiểm, hiện tại chưa có thuốc phòng trị. Triệu chứng của bệnh này rất giống bệnh héo xanh (Nấm có sợi tơ hồng) nhưng ban đầu ,bộ lá bị héo một bên trước, lá chuyển sang màu vàng sang màu nâu lợt,cây sinh trưởng còi cọc. Bênh này dễ phát hiện ở giai đoạn đầu, khi cắt thân hoa chúng có màu nâu ,đen một bên thân.
Biện pháp phòng trừ:
Vệ sinh tàn dư thực vật sạch sẽ trước khi cày bừa;
Cải tạo đất tơi xốp, tạo điều kiện cho rễ phát triển tối ưu; không tưới nước lúc trời nắng nóng.
Khi mới trồng cây con chú ý sử dụng sản phẩm Sát Khuẩn Số 1 : 1 ml cho 1 lít nước phun ướt đều để làm khô vết thương hở cho cây phòng trừ nấm khuẩn xâm nhập.
Ngoài ra còn có thuốc hóa học Metalaxyl ( 1 gr cho 1 lít nước) + Antimaxphos ( 1 gr cho 1 lít nước ) + Tiêu Sùng ( 1 ml cho 2 lít nước)
3.2.5 Bệnh phấn trắng (Oidium chrysanthemi )
Đặc điểm gây hại
Bệnh do nấm Oidium chrysanthemi gây ra. Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 20-250C, nhiệt độ cao trên 330C nấm chết sau 24 giờ, ở 450C nấm chết sau 10 phút. Bệnh nặng nhất vào mùa hè.
Vết bệnh dạng bột phấn trắng xám, hình bất định. Mặt dưới lá chỗ vết bệnh chuyển sang màu vàng nhạt.
Bệnh hại chủ yếu trên lá non, bệnh nặng có thể hại cả thân, cành, nụ hoa. Bệnh làm lá vàng, khô héo và rụng sớm, nụ thối, hoa nhỏ không nở hoặc nở lệch về một bên. Bệnh thường lan từ lá gốc lên phía trên.
Biện pháp phòng trừ:
– Bón phân cân đối, chú ý bón Kali. Ngắt bỏ lá bị bệnh
– Có thể dùng thuốc Dacccomil( 1 ml cho 1 lít nước) + Azocymo( 1 gr cho 1 lít nước) + NKPY- Zo- long( 1 ml cho 1 lít nước) để phòng trừ.
3.2.6 Tuyến trùng (Aphelenchoides ritzemabosi)
Đặc điểm gây hại:
Do tuyến trùng Aphelenchoides ritzemabosi gây ra, phá hại nhiều lọai cây hoa cảnh, phát triển mạnh trong mùa Xuân-Hè ẩm ướt. Tuyến trùng xâm nhập vào cây qua khí khổng, hòan thành chu kỳ sinh sản trong mô cây, chích hút nhựa làm lá và hoa khô héo. Có thể sống trong cây bệnh và trong đất tới 6-7 tháng. Tuyến trùng lan truyền qua cành giâm, tàn dư cây bệnh và nước tưới, nước mưa
Triệu chứng bệnh thể hiện chủ yếu trên lá, một số trường hợp gây hại chồi và hoa. Lá bị bệnh biến màu, đồng thời xuất hiện các đốm vàng nhạt hoặc vàng nâu phân biệt rõ rệt với gân lá. Đốm bệnh lớn dần làm lá xoăn và khô héo. Chồi và hoa bị bệnh cũng biến dạng xoăn lại và héo.
Biện pháp phòng trừ:
– Dùng cành giâm, cây giống không bị bệnh. Xử lý hạt giống bằng cách ngâm trong nước nóng 500C trong 10 phút.
– Ngắt bỏ lá, chồi và hoa bị bệnh tập trung đốt.
– Sử dụng một số loại thuốc hóa học: Tiêu Sùng + Cayman để phòng trừ.
3.2.7. Bệnh héo xanh (Erwinia chrysanthemi)
Đặc điểm gây hại:
Triệu chứng đầu tiên là một phần của cây sẽ bị héo rũ, có thể một hoặc hai nhánh héo trước sau đó toàn bộ cây sẽ bị héo gục và chết. Khi gặp điều kiện thuận lợi, toàn bộ phần bó mạch của thân cây sẽ bị mất màu chuyển sang màu nâu đậm.
Biện pháp phòng trừ:
Khử trùng môi trường vườn ươm cây con và đất trồng; vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ trước mùa vụ; sát trùng kỹ dụng cụ, quần áo và chân tay trước khi vào khu vực sản xuất; tiêu huỷ cây nhiễm bệnh và cách ly khu vực nhiễm bệnh; sử dụng nguồn nước tưới sạch bệnh; Kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và tạo sự thông thoáng trong nhà kính; dùng thuốc hoá học Antimaxphos + Azocymo +
4. THU HOẠCH, PHÂN LOẠI, XỬ LÝ SAU THU HOẠCH
Thu hoạch
Cây hoa cúc là loại cây ngắn ngày, tùy theo đặc tính của từng giống, mùa vụ, số giờ chiếu sáng trên ngày, thời gian sinh trưởng của cây cúc từ 10 – 12 tuần, từ lúc ngắt nụ đến khi thu hoạch khoảng 2,5 – 3,5 tuần.
Tiêu chuẩn thu hoạch
Cây thẳng, đối với hoa chùm tối thiểu có 4 nụ cùng độ nở. Đối với hoa chuẩn độ nở phải đạt 50 – 60%, chiều dài cổ hoa tối đa 18cm (trung bình từ 10 – 15cm), không phân nhánh không có nụ phụ, nụ hoa không được biến dạng, chân hoa không hoá gỗ, không vàng lá, không giòn lá, không tuột lá chân, không vết sâu, bệnh (rỉ sắt, botrytis), không bám cặn hoá chất, không rụng 3 đến 4 lá liên tiếp.
Tiêu chuẩn phân loại
Tùy theo nhu cầu của thị trường tiêu chuẩn phân loại khác nhau. Thông thường tiêu chuẩn phân loại 5cành/bó hoặc 10 cành /bó.
– Cúc 10 cành xuất khẩu: Dài 70cm, tuốt sạch lá 25cm tính từ gốc: Loại A trọng lượng tối thiểu 500gr; Loại B từ 400 đến 499 gr
– Cúc 5 cành bán nội địa: Dài 70 tuốt sạch lá 15cm tính từ gốc, cột giây thun theo hình xoắn. Loại A trọng lượng tối thiểu 250gr; loại B từ 200 – 249 gr.
– Hiện nay nông dân chưa có thói quen phân loại theo chất lượng, do giá cả thị trường biến đông nhiều, trong quá trình phân loại, nông dân ghép cây đạt chất lượng và không đạt chất lượng với nhau dẫn đến giá trị thương phẩm của cây hoa cúc bị giảm rất nhiều.
– Thị trường nội địa không chấp nhận tuốt lá chân vì tâm lý khách hàng sợ hàng trữ lạnh lâu ngày, điều này dẫn đến chất lượng hoa cũng giảm sút.
– Hiện tại, sau khi thu hoạch, người nông dân đóng gói trên đồng ruộng sau đó gởi trực tiếp đến các đại lý tiêu thụ trong nước mà không qua qui trình xử lý sau thu hoạch dẫn đến tuổi thọ của hoa cúc rất thấp, chỉ 4-5 ngày. Nếu xử lý tốt tuổi thọ của hoa đạt 10-15 ngày .
Tiêu chuẩn đóng gói xuất khẩu:
– Buộc dây thun 8 cm tính từ gốc theo hình tròn, hoa sau khi thu hoạch được cắm trong nước sạch, dùng bao đóng gói đúng quy định cho mỗi chủng loại, hoa có thể trữ lạnh 5-7 ngày trong kho lạnh, thời gian trữ lạnh càng lâu chất lượng hoa, tuổi thọ hoa sẽ giảm. Nhiệt độ trữ kho: 2-30C.
Tiêu chuẩn đóng gói nội địa:
Buộc dây thun cách gốc 3-5cm, sau khi thu hoạch, bỏ hoa vào xô cho hút nước; bỏ bịch nylon, mỗi bó từ 5-10 cành tùy theo yêu cầu của khách hàng; hoa không trữ lạnh, đóng hàng trong ngày, hầu hết nông dân không có kho trữ lạnh nên hoa bị mất nước, hấp hơi, chất lượng hoa đến tay khách hàng giảm rất lớn hoa bị ho, khi hút nước phục hồi lại thì tuổi thọ hoa chỉ 4-5 ngày, nếu bảo quản đúng qui trình thì tuổi thọ của hoa gia tăng đến 15 ngày.
Phương pháp xử lý sau thu hoạch
-Thu hoạch vào sáng sớm hoặc chiều mát để tránh cây bị mất nước.
– Giữ hoa ở nơi râm mát trong lúc thu hoạch
– Ngâm hoa trong xô nước sạch, độ cao nước 10cm tính từ đáy xô.
– Dùng thuốc bảo quản sau thu hoạch như Chrysal AVB, Floralife pha vào trong nước theo tỷ lệ khuyến cáo của nhà sản xuất sẽ tăng tuổi thọ của hoa, làm cho hoa nở tươi lâu hơn
– Thu xong trong vòng một giờ phải đưa về phòng đóng gói để xử lý sau thu hoạch.
– Hoa cúc được trữ lạnh trong khoảng 2-5 ngày là tối đa, càng để lâu trong lạnh hoa sẽ giảm chất lượng.
– Phân loại hoa theo tiêu chuẩn phân loại đã nêu trên, sau khi phân loại xong phải bỏ vào kho lạnh để tránh mất nước.
– Tùy theo nhu cầu của khách hàng số lượng hoa trên thùng/ bó khách nhau.
– Vận chuyển hoa ở nhiệt độ lạnh là 3-5 độ C
